Mấy ngày nay ngày nào tôi cũng theo dõi tình hình Nhật Bản sau thảm họa động đất và sóng thần. Tôi nhớ vào sáng thứ sáu tuần trước, khi tôi tỉnh dậy chuẩn bị đi làm, bật TV thì nghe tin dữ. Động đất 8.9 độ lichter 10km dưới đáy biển ngoài khơi Nhật Bản, và rồi sóng thần cao 10m ập vào vùng dân cư Đông Bắc. Tiếp theo sau đó là báo động đỏ nguy cơ sóng thần lan tới tận vùng bờ biển phía Tây California với các đợt sóng to liên tiếp quật vào bờ.
Cảm giác? Mặt tôi tê lại và cứng người vì sợ hãi. Thảm kịch năm 2004 ở vùng Đông Nam Á bảy năm trước bỗng ùa về trong tâm trí. Những tiếng kêu la, gào thét, bước chân người chạy hoảng loạn tìm sự sống, và rồi tiếng khóc than ngằn ngặt của những người may mắn còn sống sót giữa một đống đổ nát hoang tàn sau thảm họa cùng những gương mặt đau đớn thất thần tìm kiếm người thân trong vô vọng. Một vùng dân cư trù phú ngày nào trong một thoáng bỗng dưng bị xóa sổ, đau thương tiếp nối đau thương.
Còn nhớ, lần đầu tiên tôi biết càm giác thế nào là động đất đó là vào năm 2008, lúc tôi vừa di cư đến Mỹ được vài tháng. Trận động đất khoảng 5.2 độ lichter xảy ra vào một buổi trưa trung tuần tháng bảy, lúc tôi đang ngồi trong lớp học sinh ngữ. Cho đến bây giờ, trong tôi vẫn còn y nguyên cảm giác mặt đất chao đảo dưới chân và trần nhà lồng lộn trên đầu. Lần đầu tiên tôi biết rằng ngay cả nơi mặt đất vững chãi vẫn có thể làm cho người ta không thể đặt chân. Tuy đó chỉ là một trận động đất rất nhẹ, diễn ra trong vài tích tắc và nơi tôi ở không phải là tâm chấn, nhưng chừng đó cũng đủ cho tôi biết thế nào là hoảng sợ. Tôi chứng kiến cảnh người ta chạy vội ra khỏi các khu nhà, có người còn bật khóc, rồi họ cuống quýt gọi điện thoại cho người thân sau khi chấn động qua đi. Sau đó, có người lại nói cho tôi biết California là nơi hiểm yếu, xứ sở mà lúc nào cũng sẵn sàng cho đổ nát hoang tàn, và bảo tôi, cũng như những người dân California khác, hãy cứ chuẩn bị tinh thần cho điều tồi tệ nhất không biết lúc nào sẽ xảy ra.
Lúc tôi còn ở Việt Nam, tôi có một lòng tin rất ngây ngô (và ngu xuẩn) rằng Việt Nam sẽ chẳng bao giờ gặp điều kinh khủng như thế. Tôi thường nghe tin tức, theo dõi tình hình thế giới qua TV, nhìn thấy thảm kịch lâu lâu lại xảy ra ở nước này, bùng phát nơi nước kia. Tôi thấy những con người như tôi, đau đớn giãy giụa, quằn quại thê thảm trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên, và rồi tôi khóc. Nước mắt rơi xuống khóc thương cho những kiếp người khổ ải đọa đày. Tôi đi Chùa và cầu nguyện cho người ta thôi không còn thống khổ, nhưng trong tâm trí ít nhiều cũng cảm thấy may mắn vì dù gì mình không nằm trong hoàn cảnh như người ta, nước mình không (hoặc chưa) có động đất hay sóng thần.
Lớn thêm một chút, đi ra ngoài nhiều thêm một chút, đọc sách thêm một chút, tôi biết rằng trên Trái Đất này không có nơi nào gọi là vùng miễn nhiễm như tôi đã từng lầm tưởng. Nếu bề Trên đã muốn, mẹ Thiên Nhiên đã giận, thì bất cứ nơi đâu, cũng có thể một giây là xóa sạch.
Gần ba năm sống ở vùng đất lo sợ, đã không nghĩ đến thì thôi, mà hễ nghĩ đến thì không một giây nào tôi không khỏi hoang mang. Mỗi đêm đi ngủ tôi đều nằm rất lâu, mắt mở trừng trừng nghĩ ra đủ thứ tai họa. Kể từ lần đầu tiên vào tháng bảy năm 2008, trải qua thêm vài trận động đất nho nhỏ, tôi vẫn chưa chai cái cảm giác hoảng sợ về một sáng mai không thể tỉnh lại. Lắm lần tôi đang chập chờn sắp ngủ, bỗng nghe tiếng chó tru mèo rú, rồi tiếng quạ bay xao xác, tôi bật dậy nhanh như lò xo, dỏng tai nghe ngóng bốn phương tám hướng. Ai đó nói với tôi loài vật vốn có linh tính, chúng có thể báo trước thiên tai. Mỗi lần như vậy, tôi ước gì mình có thể hiểu tiếng thú để có thể báo cho người xung quanh biết mà vắt chân lên cổ chạy. Có hèn không nếu nói rằng tôi sợ cái chết? Tôi không sợ việc chết của bản thân nhiều lắm, dù có lúc tiếc vì mình sống mà vẫn chưa đạt được gì, nhưng mình chết thì ừ đau đớn đấy, nhưng chỉ phựt một cái là không còn biết gì nữa, ta yên ổn phần ta. Tôi sợ là sợ cái chết của những người xung quanh. Tôi sợ lắm cái cảm giác mất đi một người thân yêu. Tôi không biết người ta sẽ sống ra sao mà vượt qua nỗi đau như thế nào khi bỗng một ngày trở nên không có nơi bám tựa. Tôi không biết mình đã đổ bao nhiêu nước mắt trong những giấc mơ tồi tệ hại, khi tôi trơ trọi lang thang trên những con đường lớn nhỏ toàn những gương mặt không quen không biết, gào khóc tìm người thân. Những lúc như vậy, mỗi sáng tỉnh dậy với một bên gối ướt nhẹp, có khi tôi lâm vào khủng hoảng vì ám ảnh, hoặc hưng phấn một cách rất kỳ quặc cả ngày vì “đó chỉ là giấc mơ thôi”.
Lần đầu tiên tôi tận mắt chứng kiến một thi thể là mười một năm về trước, khi bà nội kính yêu của chúng tôi lìa bỏ gia đình. Tôi lúc đó mười ba tuổi, sống cùng bà mười ba năm. Độ tuổi không phải nhỏ để ngây ngô không hiểu cái chết là gì, nhưng cũng không đủ lớn để thấm hết nỗi đau. Mười ba năm, khi tôi biết bắt đầu biết suy nghĩ thì bà tôi đã lòa, bệnh tật và di chuyển rất khó khăn. Những ký ức về bà là những lúc bố đưa ba chị em về nhà nội thăm bà, ba đứa ngồi trên giường của bà, ôm bà hỏi bà có khỏe không, và bà tôi, lúc đó đã không còn nhìn thấy gì trước mắt, mò mẫm tìm kiếm nơi đầu giường khi thì cái kẹo, tấm bánh, lúc thì quả cam quả quýt, giúi vào tay chúng tôi nói rằng của bà để phần cho. Không phải vì chúng tôi đói kém gì, mà vì bà tôi là như thế, có mỗi miếng bánh nhỏ cũng ráng bẻ ra chia đủ phần cho mười hai đứa cháu. Bà tôi mất vào một ngày tháng chín, khi tôi vừa đi học về, nhà nội gọi điện thoại ra kêu bố vào vì “hình như bà sắp đi”. Bố vội vã đi đón chị rồi chở cả nhà vào nhìn mặt bà lần cuối. Trong nhà người lớn kẻ nhỏ chạy ra chạy vào hoảng loạn, mấy chị em tôi nép vào góc hành lang khóc như mưa gió. Trên chiếc giường mà ngày ngày bà vẫn tỉ mẩn ngồi chia phần cho các cháu, giờ chỉ còn một mình bà nằm đó trong yên lặng. Đã không còn những ngày chúng tôi ùa vào ngồi trên giường bà, ôm bà ngủ và được bà chia bánh kẹo. Ngày mai, rồi ngày kia, rồi mãi mãi, bà chết tức là không bao giờ còn gặp lại. Bà về với ông rồi, ai đó dỗ dành nhưng chúng tôi không thể nín.
Ngày đó, tôi bắt đầu hiểu rằng chết quả thực là một điều vô cùng đáng sợ. Nó chia cắt những người yêu thương nhau. Bà tôi hưởng hết dương thọ và ra đi trong bình an, ai đó nói rằng đó chính là phúc phận tu giữ ba đời. Nhưng mất mát vẫn chính là mất mát, dẫu có là phúc phận đi nữa thì khoảng trống trong lòng người ở lại không cách chi lấp đầy đi được.
Lần thứ hai tôi thấm thía sự ra đi của người thân cũng là ba năm trước, khi chị họ con cô nhắm mắt lìa đời sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư. Lúc đó tôi không ở Việt Nam. Chị tôi mất vào tối Gíang Sinh, chúng tôi trở về nhà sau bữa tiệc nhà dì và nhận được điện thoại từ Việt Nam. Gần hai tháng trước đó, chúng tôi đã luôn chuẩn bị cho tin dữ khi biết chị đã dần đi đến gia đoạn cuối, vậy mà vào lúc đó, tôi vẫn không thể cầm được việc khụy xuống mà nức nở, khóc không dừng được. Lúc tôi đi chị vẫn đủ sức ra tận sân bay đưa tiễn, khi tôi về chị chỉ còn là di ảnh trên bàn thờ họ. Tôi không được nhìn thấy chị một lần cuối cùng. Chi chỉ là chị họ, nhưng anh chị em trong gia đình tôi vốn rất thân nhau. Chúng tôi cùng nhau lớn lên, và bây giờ, chị lại là người bỏ đi trước hết. Có đau đớn không khi một người phụ nữ đi chưa hết tuổi xuân đã vội vã bước qua tuổi già để âm thầm nằm sâu dưới ba tấc đất? Đứa cháu gái mới bốn tuổi tự dưng trở thành mồ côi mẹ, tôi có đổ bao nhiêu nước mắt cũng không thể nào bôi xóa nỗi buồn.
Tôi không biết Thượng Đế muốn gì khi lâu lâu lại giơ tay lấy lại những gì Người đã hào phóng ban ra. Người cho cuộc sống, tặng sinh mạng, nhưng trong một thoáng bỗng nhẫn tâm lấy đi tất cả. Bà tôi, rồi chị tôi, mỗi người bước đi là tạc lại trong lòng người ở lại vô vàn những vết thương toang toác. Nỗi đau mất người thân là thứ có thể làm thời gian trở thành một liều thuốc vô cùng tồi, vô tích sự đến mức chẳng thể làm cho người ta quên đi.
Tối hôm qua, khi biết con số thương vong ở Nhật đã lên tới 10.000, tôi nhũn hết cả não. Thành phố 17.000 dân mà hết 10.000 thi thể được tìm ra, trong số đó có bao nhiêu cụ già, bao nhiêu trẻ em, bao nhiêu những thanh niên thiếu nữ đang độ xuân thì mơn mởn, bao nhiêu người sau một đêm tỉnh giâc bỗng thấy xung quanh mình chẳng còn một ai? Sức mạnh của số phận là như thế này sao? Có ai trong số 10.000 người đó đã từng nghĩ đến việc sáng thứ Sáu mình bước ra khỏi nhà và không bao giờ còn trở lại? Tôi nhìn thấy người ta lôi những thi thể mềm oặt đầy bụi đất từ dưới đống đổ nát, hơn 2000 thi thỉ ngập bùn rác được sóng biển đánh dạt vào bờ, rất nhiều rất nhiều các thi thể mắc kẹt trong xe hoặc chết dập chết dúi đâu đó trên đường đi. Ngoài chảy nước mắt ra tôi không còn biết làm gì. Người ta sao mà khổ quá, thê lương quá. Người chết thì đã chết rồi, họ trả xong nghiệp chướng phần họ, từ nay yên ổn ra đi. Nhưng còn người ở lại? Tôi thấy cả một vùng dân cư biến mất trên bản đồ vệ tinh. Tôi thấy một người mẹ đau đớn ôm đứa bé gái trên tay, ngửa mặt lên trời mà khóc. Tôi thấy có một cụ già chống gậy đi giữa một đống đổ nát hoang tàn, tìm kiếm người thân. Tôi thấy tin người ta nhắn tìm nhau trên các mạng xã hội, thảm họa xảy ra đã một vài ngày mà vẫn không sao liên lạc được. Tôi thấy cả những đứa bé ngây thơ đứng tần ngần giữa cảnh thiên nhiên tàn phá, ánh mắt hoang hoải không hiểu đã xảy ra điều gì. Tôi thấy cả những câu chuyện đầy nước mắt của những người may mắn sống sót chứng kiến sóng thần cuốn trôi người thân. Tôi thấy người ta thât thần, người ta hoảng loạn, người ta nỗ lực kiếm tìm, người ta lê lết đau đớn, khốn khổ khốn nạn dưới lưỡi dao tàn bạo của số phận an bài.
Tôi hãi hùng trước thứđược gọi là định mệnh.
Tôi sợ quá những cơn phẫn nộ của Thiên Nhiên.
Tôi đau đớn quá cái cảnh người ta cuống cuồng tháo chạy mà vẫn không thoát khỏi cơn sóng dữ.
Tôi xót quá khi thấy người ta thẫn thờ tìm kiếm nhau trong tuyệt vọng.
Tôi buồn quá vì tự thấy mình vô tích sự, ngoài khóc, cầu nguyện và quyên góp chút ít ra chẳng còn biết làm gì.
.
.
.
.
.
Có lẽ điều làm tôi cảm thấy ấm lòng là ở dưới đáy khổ đau người ta thường tìm thấy tình người. Màu da, tôn giáo, chủng tộc đã không còn là bức tường ngăn cách những trái tim. Thế giới phát động những lời cầu nguyện, những chiến dịch chung tay vực dậy Nhật Bản sau thảm họa. Có vô số những tình nguyện viên khắp thế giới đã nhanh chóng có mặt ở Nhật Bản, mặc kệ tình trạng nổ lò hạt nhân và nguy cơ nhiễm phóng xạ cao. Tôi thấy trên truyền hình các nhà thờ tổ chức những đêm nguyện cầu, người ta hát, đọc kinh, thắp nến, cầu linh hồn người đã khuất mau siêu thoát và cầu bình an cho những người còn ở lại. Cả thế giới giờ đây đồng lòng hướng về Nhật Bản. Tranh chấp lãnh thổ, xung đột chính trị, mâu thuẫn tôn giáo, kỳ thị sắc tộc trong một thoáng bỗng dưng trở nên nhạt nhòa vô ảnh, chỉ còn đó những trái tim biết yêu thương và chia sẻ. Tình người với người trong hoạn nạn vốn không thể bôi xóa hết tang thương, nhưng sẽ làm ấm lắm những kiếp người đã trót phải hư hao. Khi người ta chìa tay ra cho người khác, là lúc họ đã thoát hết phần “con” mà thăng hoa thành “người”.
.
.
Tôi vẫn luôn nghĩ về Nhật Bản như một vùng đất trong tiềm thức, giống như An Ni Bảo Bối đã luôn gọi Hà Nội là thành phố từ kiếp trước. Nhật Bản là quê hương truyện tranh, là xứ sở của các giấc mơ cùng phép màu kỳ diệu. Khi còn bé, Nhật Bản là nơi tôi gởi gắm và nuôi dưỡng ước mơ của mình, đến mức có lúc hàng ngày nhìn lên bản đồ thế giới tự hứa rằng trước khi chết nhất định sẽ một lần đến thăm nơi Doraemon được sinh ra, ngồi uống trà đạo, xem đánh kiếm và ngắm hoa anh đào. Lớn lên một chút, tôi biết về Nhật Bản với mỹ từ “cường quốc”, và tính kiên cường mạnh mẽ của dân chúng thuộc xứ sở Mặt Trời trước những gian nan. Tôi còn được biết cả sự bạo tàn sai trái của chủ nghĩa Phát xít Nhật trong chiến tranh thế giới lần hai, cùng thảm kịch ở Hiroshima và Nagasaki khép lại một trang lịch sử thế giới đẫm máu và nước mắt. Nhật Bản còn là “ổ” bệnh đô thị, đầy rẫy cô đơn, bạo lực, tự tử, sex, porn industry, băng đảng, tha hóa, đạo đức suy đồi. Tôi đã từng giật mình kinh hãi khi nhận ra hình tượng về một xứ sở thanh tao không tì vết trong lòng bỗng dưng hư hao đáng kể, nhưng thật ra thì ở đâu cũng luôn tồn tại hai mặt của một vấn đề vậy thôi. Trải qua rất nhiều năm lớn lên, tình cảm của tôi với đất nước Hoa Anh Đào vẫn không thay đổi là bao. Tôi thích ba hệ thống bảng chữ cái trong ngôn ngữ và khẩu âm đáng yêu của họ, tôi thích cách họ cúi người chào nhau, tôi ngưỡng mộ cái cách họ vươn lên trong gian nan, tôi thích cái kiểu ăn uống rất tỉ mỉ cầu kỳ, tôi yêu cái ngành công nghiệp truyện tranh đã tô màu cho giấc mơ của hàng ngàn hàng vạn những đứa trẻ như tôi, tôi mê mệt dòng văn chương “tịnh” và “mỹ” kiểu Kawabata, tôi thèm được tham gia những hội Thất Tịch, ngày hội Búp Bê, ngày hội thể thao, lễ ngắm hoa O-hanami…Tất cả tạo nên trong tôi một Nhật Bản đầy chất thơ, một xứ sở tuy không hoàn hảo nhưng lãng mạn đủ để người ta yêu thích được chạm vào.
Giờ phút tôi ngồi viết những dòng này đây thì một phần vùng đất trong tiềm thức vẫn đang đổ nát tan hoang, và người dân mạnh mẽ kiên cường vẫn không ngừng đấu tranh với khó khăn đau khổ để cố gắng tồn tại. Tôi thật lòng cầu nguyện bình an cho xứ xở trong mơ, đủ mạnh mẽ để vượt qua những ngày tháng gian nan phải khuất lấp trong mây mù để Mặt Trời tiếp tục lên cao và hoa anh đào lại một lần nữa được tỏa ngát hương thơm.

Bình luận về bài viết này